Sorry, you need to enable JavaScript to visit this website.

You are here

Industries



















































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































Description

1/ Khái niệm thuế

Nhà nước chỉ có thể tồn tại và phát triển khi dùng quyền lực của mình để bắt buộc các thành viên trong xã hội phải có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, một phần thu nhập cho Nhà nước. Hình thức đóng góp ấy chính là thuế.

Cùng với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, thuế đã trải qua quá trình phát triển và hoàn thiện lâu dài, đồng thời người ta đã đưa ra rất nhiều khái niệm về thuế khi đứng trên những góc độ khác nhau:

– Các nhà kinh điển cho rằng: “thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại”. Và “thuế cấu thành nên phần thu của chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”.

– Một số định nghĩa khác về thuế:

+Trong một số tài liệu có có viết: thuế là khoản đóng góp theo quy định của pháp luật mà Nhà nước bắt buộc mọi tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào cho ngân sách Nhà nước.

+  Trên một góc độ khác, người ta đã đưa ra khái niệm thuế như sau: thuế là hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước.

Khái niệm thuế

Xem thêm >>> làm luận văn tốt nghiệp

2/ Đặc điểm của thuế

– Thứ nhất: thuế có tính cưỡng chế và tính pháp lý cao.

Đặc điểm này được thể chế hóa trong hiến pháp của mỗi quốc gia. Trong các quốc gia, việc đóng thuế cho Nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc của các tổ chức kinh tế và công dân cho Nhà nước. Các tổ chức kinh tế và công dân thực hiện nghĩa vụ thuế theo các luật thuế cụ thể được cơ quan quyền lực tối cao ở quốc gia đó quy định phù hợp với các hoạt động và thu nhập của từng tổ chức kinh tế và công dân.

Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ thuế của mình, tức là họ đã vi phạm luật pháp của quốc gia đó.

Đặc điểm này phân biệt  sự khác nhau giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính tự nguyện cho ngân sách Nhà nước và thuế đối với các khoản vay mượn của Chính phủ.

Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu rằng thuế là biện pháp tài chính mang tính chất bắt buộc của Nhà nước, sự bắt buộc đó luôn được xác lập dựa trên nền tảng của các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, trong nước và quan hệ kinh tế thế giới.

–  Thứ hai: Đặc điểm của thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp.

Khác với các khoản vay, Nhà nước thu thuế từ các tổ chức kinh tế và

Các cá nhân nhưng không phải hoàn trả lại trực tiếp cho người nộp thuế sau một khoảng thời gian với một khoản tiền mà họ đã nộp vào ngân sách Nhà nước. Số tiền thuế thu được, Nhà nước sẽ sử dụng cho các chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước và của mọi cá nhân trong xã hội. Mọi cá nhân, người có nộp thuế cho Nhà nước cũng như người không nộp thuế, người nộp nhiều cũng như người nộp ít, đều bình đẳng trong việc nhận được các phúc lợi công cộng từ phía Nhà nước. Số thuế mà các đối tượng phải nộp vào cho Nhà nước, được tính toán không dựa trên khối lượng lợi ích công cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ.

Đặc điểm này cũng phân biệt giữa thuế với phí và lệ phí.

Đặc điểm của thuế

Xem thêm >>> Rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp

3/ Các yếu tố cấu thành một sắc thuế

Các yếu tố cấu thành một sắc thuế chính là thể hiện nội dung cơ bản

của sắc thuế đó. Bao gồm:

-Tên gọi của sắc thuế: Mỗi sắc thuế có một tên gọi riêng. Thông thường tên gọi của mỗi sắc thuế thể hiện đối tượng tác động của sắc thuế hoặc mục tiêu của việc áp dụng sắc thuế đó.

– Đối tượng nộp thuế: Là các tổ chức kinh tế hoặc các cá nhân có trách nhiệm phải kê khai và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước theo các quy định cụ thể trong mỗi sắc thuế. Đối tượng nộp thuế thể hiện phạm vi áp dụng của một chính sách thuế cụ thể.

Trong hệ thống chính sách thuế của nước ta hiện nay, có những sắc thuế có phạm vi áp dụng rất rộng (chẳng hạn thuế Giá trị gia tăng, thuế Môn bài), nhưng cũng có những sắc thuế có phạm vi áp dụng hẹp( như thuế Chuyển quyền sử dụng đất, thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu).

Có những đối tượng nộp thuế chỉ kê khai và nộp một loại thuế, song cũng có những đối tượng, trong một thời gian phải kê khai và nộp nhiều loại thuế khác nhau (thuế giá trị gia tăng, thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Nhập khẩu), điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của họ.

– Cơ sở thuế: là đối tượng tác động của một chính sách thuế.

Tùy theo mục đích và tính chất của từng sắc thuế, cơ sở thuế có thể là các khoản thu nhập nhận được trong một thời gian nhất định của một tổ chức kinh tế hoặc một cá nhân, tổng giá trị tài sản do tổ chức kinh tế hoặc cá nhân đó nắm giữ, tổng trị giá một lô hàng hoặc một lượng giá trị nhất định của hàng hóa, dịch vụ.

– Thuế suất: Là yếu tố quan trọng nhất của một sắc thuế. Có thể nói thuế suất là linh hồn của một sắc thuế. Nó phản ánh mức độ điều tiết trên một cơ sở thuế. Do đó, thuế suất thể hiện quan điểm của Nhà nước về yêu cầu động viên nhằm khuyến khích hay không khuyến khích sự phát triển của một ngành nghề, một loại sản phẩm cụ thể nào đó. Thuế  suất là mức thu được ấn định trên một cơ sở thuế bằng những phương pháp tính toán thích hợp. Từ đó hình thành nên các loại thuế suất sau đây:

+ Thuế suất cố định: Mức thu được ấn định bằng một lượng thuế tuyệt đối trên cơ sở thuế. Trong hệ thống các sắc thuế đang được áp dụng ở nước ta hiện nay, thuế môn bài là loại thuế còn áp dụng thuế suất cố định. Tuy nhiên, sắc thuế này cũng có tính chất đặc biệt : Mức thu cố định được ấn định cho các đối tượng nộp thuế trong cả năm căn cứ vào mức thu nhập của đối tượng nộp thuế.

Các sắc thuế áp dụng thuế suất cố định tuy đơn giản và dễ thực hiện trong quá trình hành thu, song nó cũng có những nhược điểm lớn là không đảm bảo được tính công bằng. Do vậy , hiện nay thuế suất này rất ít được áp dụng ở các nước.

+ Thuế suất tỷ lệ: Mức thu quy định bằng một tỷ lệ phần trăm của cơ sở thuế và không thay đổi theo quy mô của cơ sở thuế. Loại thuế suất này đang được sử dụng phổ biến trong nhiều sắc thuế đang áp dụng ở nước ta và trên thế giới.

+Thuế suất lũy tiến: Mức thu được quy định bằng một tỷ lệ phần trăm của cơ sở thuế, nhưng tăng dần theo quy mô của cơ sở thuế.

– Có hai loại thuế suất lũy tiến là thuế suất lũy tiến từng phần và thuế suất lũy tiến toàn phần

+ Thuế suất lũy tiến từng phần: áp dụng với mức thuế suất tăng dần theo từng phần tăng lên của cơ sở thuế. Với các sắc thuế áp dụng loại thuế suất nay trong biểu thuế suất, cơ sở thuế được chia thành nhiều bậc theo mức độ tăng dần. Ứng với mỗi phần tăng lên trong từng bậc thuế đó là một mức thuế suất biên.

Số thuế mà đối tượng phải nộp bằng tổng số thuế tính theo từng bậc. Loại thuế này tính toán thuế và công tác thẩm tra nhìn chung khá phức tạp, nhưng nó đảm bảo cho thuế tăng từ từ, không bị đột biến cùng với tốc độ tăng của cơ sở thuế, đảm bảo tính công bằng theo chiều dọc cao và có tác dụng lớn trong việc điều tiết thu nhập. Vì vậy thuế thu nhập cá nhân đang được áp dụng ở nước ta và các nước trên thế giới, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đang được áp dụng ở nước ta hiện nay là loại thuế áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần.

+ Thuế suất lũy tiến toàn phần: Biểu thuế cũng bao gồm nhiều bậc với mỗi mức tăng lên của thuế suất nhưng toàn bộ cơ sở thuế được áp dụng một mức thuế suất chung tương ứng. Thuế suất lũy tiến toàn phần cho phép xác định số thuế phải nộp khá đơn giản và nhanh chóng.

Tuy vậy, nó cũng có nhược điểm là gây ra sự thay đổi có tính chất đột biến về tổng số thuế phải nộp của các đối tượng nộp thuế. Mặc dù giá trị của cơ sở thuế thay đổi không đáng kể, nhưng sự thay đổi này dẫn đến kết quả là đối tượng phải nộp thuế tính theo mức thuế suất tương ứng cao hơn. Mức thuế suất cao này lại được tính cho toàn bộ cơ sở thuế, do đó dẫn đến số thuế phải nộp tăng cao. Sự tăng thuế này dễ dẫn đến phản ứng từ phía đối tượng nộp thuế, và như vậy tất yếu làm giảm vai trò của thuế.

Nguồn >>> đặc điểm của thuế